Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Đền Sắc - Thạch Khê: Nơi hội tụ khí thiêng sông núi

Cùng với sự thành kính và những nén tâm nhang của các chư tăng phật tử trên địa bàn toàn tỉnh hướng về lễ vu lan, báo hiếu, những ngày tháng 7 linh thiêng này cũng đã trở thành thời khắc khó quên đối với con cháu dòng họ Đồng và biết bao người dân trên địa bàn xã Thạch Khê khi họ cũng đang rưng rưng một tấm lòng hướng về địa chỉ tâm linh - Đền Sắc Trản Nội – nơi thờ phụng vị Tán trị công thần Triều Lê huý Đồng Văn Năng đã vinh dự được xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hoá cấp tỉnh.

Đền thờ Đồng Văn Năng đã được họ tộc xây dựng lại trên nền cổ xưa tại làng Cao Thanh- Thạch Khê

Sử sách lưu rằng, Đồng Văn Năng được sinh vào những năm cuối thế kỷ thứ XV và mất vào những năm gần cuối thế kỷ XVI. Tên thường gọi trong dân gian là Ông Phổ - là Đức Tổ đời thứ 4 của dòng họ Đồng - một dòng họ lớn có nguồn gốc từ Hải Dương về định cư tại làng Thanh Cao - xã Thạch Khê ( Thạch Hà) từ thế kỷ thứ XIV. Quãng thời gian đó, Lê triều bước vào giai đoạn suy vong do bộ máy thống trị ngày càng mục nát, tầng lớp quan lại sống xa hoa truỵ lạc. Các cuộc tranh dành, thoán đoạt và xung đột giữa các phe phái phong kiến ngày càng gay gắt đã khiến đời sống của người dân hết sức lầm than. Lòng yêu nước, thương dân trong thời buổi nhiễu nhương cùng với niềm tự hào về dòng họ và truyền thống văn khoa võ nghệ của quê hương đã thực sự là mạch nguồn rèn đúc ý chí làm nên nghiệp lớn cho Đồng Văn Năng từ những ngày còn thơ bé.

Hiện tư liệu chính sử chép về sự nghiệp của võ quan Đồng Văn Năng khá hiếm hoi để có thể đánh giá, nhìn nhận sâu hơn về sự nghiệp và công lao của ông đối với non sông đất nước. Nhưng dựa vào nguồn tư liệu do dòng họ cung cấp và các đạo sắc phong còn lưu lại, tương truyền rằng sau khi đỗ đạt, ông đã trở thành một võ quan có tài thao lược, từng lập được nhiều công lớn trong cuộc chấn hưng Lê triều nên được phong “Tán trị công thần” - (là người đã làm được những việc quan trọng giúp Vua), “Anh vĩ tướng quân” - Đô chỉ huy sứ tả hữu kiểm vệ quân Cẩm y, tước Phổ dương hầu thuộc hàng tam phẩm.

Sau khi ông mất, con cháu trong dòng họ và nhân dân trong vùng đã xây mộ và lập đền thờ ông trên địa phận xóm Cao Thanh - xã Thạch Khê (Thạch Hà). Cũng theo truyền miệng và các tư liệu lịch sử địa phương cho biết, ông đã được nhân dân địa phương tôn làm Thành hoàng làng - vị thần bảo hộ của mỗi làng Việt cổ truyền. Sự linh thiêng của ông đã được các triều đại phong kiến ban cấp các sắc phong chuẩn cho dân làng thờ phụng tại đền Sắc Trản Nội.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại rằng: Trước đây, đền thờ vị thành hoàng này được xây 3 gian bằng đá, phía trong kẻ vẽ hoa văn, đỉnh nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Nội thất 3 gian đều bố trí ban thờ đắp bằng vôi đá, trên có hương án, hòm sắc và đồ tế khí. Thế nhưng, sự thăng trầm của lịch sử, sự khắc nghiệt của thời gian đã khiến cho ngôi đền ngày một xuống cấp và bị phá huỷ hoàn toàn vào năm 1960. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, nỗi niềm đau đáu của chính quyền xã nhà về một di tích, một địa chỉ tâm linh cùng với sự trăn trở của cháu con trong dòng họ về việc trùng tu tôn tạo nhà thờ Đồng tộc và nhà thờ vị thần tổ của dòng họ Đồng Văn Năng đã thực sự làm sống dậy di tích lịch sử ngay trên nền xưa cũ.

Ông Đồng Xuân Vượng - Tộc trưởng dòng họ Đồng ở Thạch Khê cho biết: “Năm 1982 con cháu họ Đồng đã xây dựng nhà thờ riêng trong khuôn viên nhà thờ dòng tộc và rước sắc phong, bài vị của vị Thần tổ về thờ. Từ sau khi được tỉnh xếp hạng di tích cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, thời gian qua chúng tôi cũng đã kêu gọi sự đóng góp của cháu con nội tộc nguồn kinh phí 700 triệu đồng cùng hàng chục ngày công cho việc xây dựng lại ngôi đền ”.

Hiện toàn bộ khu di tích, bao gồm nhà thờ Đồng tộc và nhà thờ vị thần tổ của dòng họ - Đồng Văn Năng được xây liền kề trên một khu đất cao ở phía bắc rìa làng, tuy thế đất hẹp nhưng tầm nhìn rộng mở và phóng khoáng với lối kiến trúc cổ xưa, được bài trí khá công phu và đẹp mắt. Hiện tại, ngoài sắc phong đền thờ của ông còn lưu giữ được nhiều câu đối bằng chữ hán nói về cuộc đời, sự nghiệp và sự cống hiến của ông cho quê hương đất nước.

Quyết định công nhận đền thờ Anh vĩ tướng quân Phổ dương hầu Đồng Văn Năng được xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hoá cấp tỉnh đã không chỉ mang lại niềm vinh dự lớn lao cho con cháu dòng họ Đồng Kiều Mộc mà còn là niềm tự hào đối với biết bao thế hệ người dân trên dải đất vùng biển ngang của huyện Thạch Hà. Bởi ngoài địa chỉ tâm linh của con cháu hậu duệ và nhân dân trong vùng, đền thiêng còn là một dấu son chói lọi giáo dục nhắc nhở mọi thế hệ mai sau về lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và truyền thống học hành khoa cử của làng xã Long phúc xưa kia, Thạch Khê ngày nay - Một vùng đất bạc màu tự ngàn đời cha ông chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng. Nhưng, nhờ sự tảo tần lam lũ của những người dân một nắng hai sương, nhờ sự phù trì bảo hộ, che chở của vị Linh phù bản cảnh Thành Hoàng làng trước thiên tai địch hoạ nên mảnh đất này đã trở nên phồn thịnh nhất xứ Nghệ kể từ đầu thế kỷ XIV.

Và hôm nay đây, trong sự chuyển mình phát triển, con cháu dòng họ Đồng cũng đang tiếp bước truyền thống của tiền nhân cùng với những người dân Thạch Khê ngày đêm cống hiến sức mình cho công cuộc xây dựng quê hương đất nước.

Thuý Ngọc
( Theo: Báo Hà Tĩnh )

TRANG TRẠI CHIM BỒ CÂU

 TRANG TRẠI CHIM BỒ CÂU | trangtraichimbocau.blogspot.com
Thấy ông xếp làm chuồng để nuôi Chim Bồ Câu, thế là mình củng giở cái thói " ngao du " muốn nuôi vài đôi Chim Bầu Câu cho vui. Tìm trên mạng về cách nuôi Chim Bồ Câu, thì mê tít với nhiều hình thức nuôi loài chim này. Ví dụ như nuôi Chim Bồ Câu đưa thư, Nuôi Chim Bồ Câu lấy thị, nuôi Chim Bồ Câu cảnh...

Mà đặc biệt hơn bởi vì là Chim Bồ Câu! Nó đã có từ trong tâm trí từ lúc nào rồi.

Thế nên chỉ trong một ngày, tranh thủ giờ rảnh rổi tìm kiếm tài liệu và lập xong một trang Website Blog về kỹ thuật Nuôi Chim Bồ Câu. Tớ sẽ tiếp tục tìm kiếm nhiều tài liệu về Chim Bồ Câu hay hơn nữa, và Post lên cho các cộng đồng nuôi chim, và các chủ trang trại nuôi chim tham khảo.



MỜI BẠN XEM MỘT ÍT HÌNH ẢNH VỀ LOÀI CHIM NÀY:










Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt


Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.


Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.
Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.
Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời "sấm truyền" cho một đế vương.
Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông". Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.
Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng - sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: "Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật...”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng... Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn".
Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.
Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: "Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân".
Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi
Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: "Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường".
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Lê Lợi sinh ra trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình".
Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện
Nguyễn Huệ (1753 - 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.
Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.
So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung - Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: "Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…
Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được... Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại".
Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.
Bài viết sưu tầm

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

NGƯỜI VIỆT XƯA


Cảnh sinh hoạt và hớt tóc ở chợ

Bắt cá trên sông
Lớp học của thầy Đồ


Đường Mạc Đỉnh, Saigon
Một đám tang ở Cholon

Trẻ em Bắc Kỳ
Viết câu đối tết
Phụ nữ VN đang trang điểm
Các bà đang đánh bài - Saigon
Trio de Mendiant Devant un Restaurant Annamite
pousse-pousse annamite-xe kéo
Bữa cơm
Marchands de Thé (Un milicien Annamite )

Một gánh hát rong

Lính khố đỏ


Học trò tiểu học




Cochinchine - Saïgon - Repas annamite - Femmes avec pieds sur la table en train de manger
Chanteuses et Musiciennes - Saigon Vietnam
FEMME AU MIROIR
Hanoi - un coin du marché


Cochinchine - Marché aux cochons

Thiếu nữ gánh nước







một ông quan người An Nam (VN) với móng tay để dài





VIET NAM - Cochinchine - Saïgon - Jeune Homme - 1906




thanh niên hút thuốc lào
thiếu nữ với nón quai thao


NAM-DINH - PORTEUSE D'EAU


HANOI - Ouvriers Indigènes fabricant des cigares . 1910


Indochine Vietnam - Femme Haiphong - Tonkin, 17-03-1907





VIETNAM Doson - Porteurs en marche



Nain Annamite, 1903





Xe kéo



HANOI - thiếu nữ gánh nước

Thiếu nữ với yếm

Thiếu nữ hút thuốc lào
TONKIN - HANOÏ - Conducteur de Brouette


Hải Phòng 1906 - người phụ nữ hút thuốc lào


Femme Tonkinoise - 1900

TONKIN 1924 - người mẹ trẻ và con trai

 NGuồn từ: http://nguyenthuongphoto.blogspot.com/2011/01/nguoi-viet-nam-xua.html