Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

Những truyền thuyết gây tranh cãi


Năm 2012 đã hóa giải một trong những bí ẩn luôn ám ảnh con người. Chẳng có chuyện tận thế gì như suy đoán khi giải mã lịch cổ Maya, và ngày 21/12/2012 hóa ra chỉ là sự chấm dứt để khởi đầu một vòng quay mới. Tuy nhiên, vẫn còn những bí ẩn khổng lồ khác đang chờ được khám phá:

Kinh Phúc âm về vợ Jesus

Sử gia của Đại học Harvard, Karen King đã làm bùng nổ dư luận vào tháng 9/2012 với tin tức giật gân, rằng bà đã phát hiện một mẩu giấy cói dường như ghi lại lời của chúa Jesus đề cập đến “vợ của tôi”. Tuyên bố trên nhanh chóng khiến giới chuyên gia đặt câu hỏi về nguồn gốc thực sự của mảnh giấy này, và tòa thánh Vatican cho rằng đó chỉ là đồ giả mạo. Hầu hết các chuyên gia về phân tích nguyên bản đều tỏ vẻ hoài nghi.

Sử gia Karen King với mẩu giấy cói gây tranh cãi - (Ảnh: Harvard Gazette)
Tờ Harvard Theological Review đã rút lại kế hoạch công bố bài viết học thuật về mảnh giấy cói này trong ấn bản vào tháng 1 năm nay. Mới đây, phát ngôn viên của chuyên san trên cho hay vẫn chưa có kết quả phân tích về tính xác thực của tài liệu gây sốc này. Kênh Smithsonian cũng hoãn lại việc phát phim tài liệu xung quanh phát hiện mới, chờ kết quả thử nghiệm.

Hộp Jonah

Vào tháng 2 năm ngoái, các chuyên gia tuyên bố đã sử dụng cánh tay robot gắn camera để nghiên cứu một bình đựng hài cốt bên trong ngôi mộ khóa kín dưới lòng đất sâu ở Jerusalem. Họ cho hay cái hộp được khắc hình một con cá, cũng như những văn tự ám chỉ từ “Jonah” và sự hồi sinh.
Kết luận của các chuyên gia: các hình khắc này là chứng cứ cho thấy những người Thiên Chúa giáo đầu tiên đã được chôn trong mộ. Thế nhưng, những người hoài nghi lại không tin tưởng lắm về sự diễn dịch này, một phần do nhóm khảo cổ học trên từng gây tranh cãi với một tuyên bố động trời liên quan đến mộ của Jesus cách đây vài năm.

Vài tháng sau, các cuộc tranh cãi vẫn không hề lắng dịu. Một trong những người đứng đằng sau khám phá trên là James Tabor của Đại học Bắc Carolina (Mỹ). Ông này thừa nhận rằng cần phải tìm thêm chứng cứ, nhưng muốn đào được những hũ cốt đó lên cần phải đợi thêm thời gian.

Kim tự tháp trên Google Earth

Nhà nghiên cứu Angela Micol đã thu hút sự chú ý vào tháng 8 với tuyên bố giật gân, rằng hình ảnh trên Google Earth hé lộ những cấu trúc giống như kim tự tháp trên sa mạc ở Ai Cập. Bà cho rằng đó có thể là những khu vực chưa từng được biết đến, nhưng hóa ra các nhà khảo cổ học đã để mắt đến chúng, và họ đã nghiên cứu những nơi này.
Một thông tin khác là Micol phát hiện về một mô đất có hình dáng kỳ lạ trên các bức ảnh của Google Earth, và đến nay vẫn chưa có thông tin cập nhật về vụ việc.

Nhân bản voi ma mút lông xoắn

Liệu con người có thể làm sống lại một giống loài đã tuyệt chủng hàng chục ngàn năm? Nghi ngờ vẫn chất đầy nhưng điều đó không ngăn cản các chuyên gia Nga và Hàn Quốc nỗ lực hồi sinh voi ma mút.
Dự án trên, đã được công bố hồi tháng 3/2012, bao gồm khôi phục các tế bào có thể tồn tại từ xác ma mút được bảo quản cực tốt trong băng tầng vĩnh cửu ở Siberia.
Sau đó, họ cấy vật liệu di truyền của tế bào trên vào trứng voi, tạo nên phôi nhân bản, rồi chuyển phôi vào dạ con voi để khởi động quá trình thai nghén.

Vào cuối năm, tờ The Siberian Times đưa tin các mẫu tủy xương, tóc, cơ và tế bào mỡ đã được mang từ Yakutsk đến Seoul, nhằm xác định liệu các tế bào sống có thể được chiết xuất hay không. Và sự việc mới dừng lại đó.
Theo Thanh Niên

Xuất hiện tam giác quỷ Bermuda mới?


Tuy nhiên, hiện có thêm một giả thuyết mới đang gây chú ý công luận: Chiếc máy bay xấu số cùng các hành khách của nó đã trở thành nạn nhân của “Lời nguyền Los Roques”, một hiện tượng mà không ít người ví với “Tam giác quỷ Bermuda”, theo báo Guardian (Anh).

Trang ABC News đưa tin, chiếc máy bay đã đi được 140km kể từ khi rời khỏi nơi nghỉ dưỡng Los Roques (một quần đảo bao gồm hàng trăm hòn đảo) để tới Caracas, Venezuela hôm 4/1, thì đột nhiên biến mất ở phía trên vùng biển rộng lớn. Kể từ những năm 1990, người ta thống kê được ít nhất 15 máy bay khác từng lâm vào tình trạng khẩn cấp, bị rơi hoặc biến mất trong cùng khu vực.

Năm 2008, 14 người đã thiệt mạng khi một chiếc phi cơ có hành trình tương tự từ Los Roques bị mất tích. Không có bất kỳ mảnh vỡ nào của máy bay từng được tìm thấy và người ta chỉ trục vớt được thi thể của duy nhất 1 nạn nhân, theo VolarenVenezuela - một trang web về hàng không dân dụng ở Venezuela.

Vùng biển Los Roques và Venezuela ngày càng trở nên khét tiếng là “Tam giác quỷ” Bermuda mới ở Đại Tây Dương
Một số người nhận định, những vụ mất tích như trên có thể do dự giải phóng lượng lớn khí metan từ đáy biển. Số khác lại cho rằng, khi không có bằng chứng, nguyên nhân thảm họa có thể là những người ngoài hành tinh trú ngụ dưới các lớp sóng hoặc linh hồn của nền văn minh đã bị chôn vùi dưới làn nước Đại Tây Dương.

Tuy nhiên, giống như “Tam giác quỷ” Bermuda - khu vực biển giữa Bermuda, Nam Florida và Puerto Rico khét tiếng với những vụ mất tích bí ẩn của tàu thuyền và may bay - những người ít mê tín hơn vẫn tin vào một lí giải logic.

Tam giác Bermuda là nơi các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại, và tính theo tủ lệ, cũng không chứng kiến nhiều vụ mất tích hơn bất kỳ khu vực nào khác. Khu vực này cũng là nơi sản sinh các cơn bão nhiệt đới khó dự đoán trước, đồng thời dòng hải lưu Gulf Stream chảy qua khu vực này đặc biệt nhanh và mạnh.

Báo Guardian dẫn lời Nick Wall - biên tập viên tạp chí Pilot - cho hay: “Luôn có giải thích nào đó cho những việc như thế này, ngay cả khi phải mất nhiều năm mới khám phá ra sự thật. Các phi công thường chú trọng vào những thứ sẽ giúp họ sống lâu hơn, chẳng hạn như các tiêu chuẩn nhiên liệu, bản tin dự báo thời tiết, kiểm tra động cơ, … Hiện còn quá sớm để biết chắc chắn nguyên nhân gây ra sự cố mới nhất (với máy bay chở ông Missoni)".

Ngoài “Tam giác quỷ” Bermuda, Los Roques, một vùng nước bí ẩn khác bị đồn thổi có gắn với “lời nguyền chết chóc” là “Tam giác quỷ” Michigan, nằm giữa Hồ Michigan và biển Sargasso. Nhiều tàu thuyền được phát hiện trôi nổi mà không có bất kỳ thành viên thủy thủy đoàn nào quanh vùng biển Sargasso yên tĩnh.

Cho đến giờ, cư dân địa phương và những người đi biển vẫn còn kháo nhau về câu chuyện xảy ra năm 1840, sau khi đi qua vùng biển Sargasoo, tàu buôn Pháp "Rosalie" được phát hiện trong tình trạng căng buồm nhưng không một bóng người trên boong tàu. “Tam giác quỷ” Michigan bị đổ lỗi gây ra các vụ mất tích bí ẩn của nhiều thủy thủ đoàn và toàn bộ một chiếc máy bay.

Một khu vực “ma ám” khác có biệt danh “Vùng biển của quỷ” (hay còn có tên gọi Tam giác quỷ Bermuda của Thái Bình Dương) tọa lạc ở Thái Bình Dương, quanh đảo Miyake, phía nam Tokyo. Các truyền thuyết cổ kể rằng, các con rồng sinh sống ngoài khơi Nhật từng cư trú ở đó, khiến vùng này còn có biệt danh “Tam giác rồng”.
Theo Vietnamnet

Kinh hãi: Mưa... xương sọ


Trong tiểu thuyết Dracula của nhà văn nổi tiếng Bram Stoker, ông đã đề cập đến nhà thờ vùng Whitby như một nơi ở của bá tước. Điều này đã thu hút rất nhiều khách du lịch tới vùng này và góp phần phát triển kinh tế của người dân trong vùng.

Hình ảnh của ngôi đồi bị sụt lở
Nhưng gần đây người dân Whitby đã phải kinh hoàng chứng kiến cảnh mưa xương người dội xuống những ngôi nhà dưới chân nhà thờ. Đây là hệ quả của một vụ lở đất khu nghĩa địa đã có từ hàng trăm năm tuổi.

Các nhà sử học cho biết, nghĩa địa nhà thờ Whitby được đưa vào sử dụng từ năm 1110 sau công nguyên. Và đất đai ở đây đã "quá già" trước điều kiện thời tiết khắc nghiệt những ngày qua. Do mưa lớn kéo dài, đất đai đã bị sụt lở gây ảnh nghiêm trọng tới đời sống của người dân thị trấn.

Kinh hãi: Mưa... xương sọ, Phi thường - kỳ quặc, mua xuong so,thanh dia dracula,Dracula,bi an lich su,bi an,chuyen la,chuyen la co that,chuyen la the gioi,tin tuc
Kinh hãi: Mưa... xương sọ, Phi thường - kỳ quặc, mua xuong so,thanh dia dracula,Dracula,bi an lich su,bi an,chuyen la,chuyen la co that,chuyen la the gioi,tin tuc
Vụ sạt lở khá nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân


Kinh hãi: Mưa... xương sọ, Phi thường - kỳ quặc, mua xuong so,thanh dia dracula,Dracula,bi an lich su,bi an,chuyen la,chuyen la co that,chuyen la the gioi,tin tuc
Khu nghĩa địa gần 1.000 năm tuổi

Rất nhiều ngôi mộ cổ đã bị phá hủy trong những ngày mưa bão, nhiều thi hài đã lộ ra nằm đầy rãy trên phần sân sau của nhà thờ. Điều trùng hợp ngẫu nhiên là những ngôi mộ bị phá hủy có tuổi thọ khoảng hơn 100 năm, trùng với thời gian mà Dracula đã "gây án" tại địa danh này.

Kinh hãi: Mưa... xương sọ, Phi thường - kỳ quặc, mua xuong so,thanh dia dracula,Dracula,bi an lich su,bi an,chuyen la,chuyen la co that,chuyen la the gioi,tin tuc
Toàn cảnh nhà thờ vùng Whitby nơi Dracula từng "gây án"

Barry Brown 56 tuổi, một người địa phương cho biết ông đã tìm thấy vài mảnh xương quanh nhà mình: "Khi vụ lở đất xảy ra, tôi đã thấy nhiều mảnh xương rơi vào nhà tôi". Ông đã phải thu dọn hài cốt người đã mất và hy vọng những linh hồn này được yên nghỉ.
Theo Quang Dũng (TTVN)

Heo 'thành tinh' báo oán chủ lò mổ

Ít ai biết rằng đằng sau ngôi chùa Dơi còn có một khu nghĩa địa kỳ lạ chôn những chú heo được cho là đã … 'thành tinh'. Những câu chuyện heo “thành tinh” báo oán chủ lò mổ khiến nhiều người sởn da gà.


Cũng như những du khách khác, khi vào chùa Mã Tộc, còn gọi là chùa Dơi, ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất miền Tây, tôi hòa mình vào dòng người đi thẳng ra vườn cây cổ thụ trong khuôn viên chùa để xem đàn dơi. Phải công nhận, khu vườn dơi vô cùng kỳ thú, với hàng nghìn con dơi khổng lồ treo lủng lẳng kín ngọn cây. Mặc gió thổi khiến cây cối nghiêng ngả, mặc tiếng cười nói rổn rảng bên dưới, đàn dơi vẫn ngủ ngon lành, lấy sức sau một đêm miệt mài kiếm ăn. Ngôi chùa này là ngôi nhà an toàn nhất của chúng.

Khói hương tạ tội vì cả gan giết heo “thành tinh”

Sau khi thăm thú đàn dơi, tôi ngồi nghỉ ở chái chính điện ngôi chùa. Trên bậc thềm, một người đàn bà ăn mặc thời trang và một người đàn ông đang xì xụp chuẩn bị mâm lễ rất lớn, gồm đủ tiền vàng, gà luộc ngậm hoa, đặc biệt là một con heo vàng mã to như thật. Xưa nay, tôi chỉ thấy người đời làm vàng mã hình nhân, ngựa, rồng, xe cộ, máy bay, tên lửa… chứ tôi chưa từng thấy làm vàng mã bằng heo.

Tò mò, tôi theo người đàn ông và người đàn bà đi vòng ra phía sau chính điện chùa Mã Tộc. Họ đặt mâm lễ trước một ngôi mộ. Tôi thực sự bất ngờ, khi sau ngôi chùa không phải là bảo tháp cất xá lị của các sư trụ trì như thường lệ, mà là những ngôi mộ được xây cất theo hàng lối, có cả bia. Nhưng kỳ cục hơn, trên mỗi bia mộ vẽ hình một chú heo rất béo tốt, đẹp mắt, da trắng hồng. Có ngôi mộ ghi “Bà Hợi”, “Ông Hợi”, “Năm Hợi”…
Heo 'thành tinh' báo oán chủ lò mổ - Tanchau123.Blogspot.ComCác bia mộ hình “Bà Hợi”, “Ông Hợi”, “Năm Hợi”… phía dưới tên là tuổi tác và thời gian sinh tử.

Các bia mộ hình “Bà Hợi”, “Ông Hợi”, “Năm Hợi”… phía dưới tên là tuổi tác và thời gian sinh tử.
Khi người phụ nữ khấn vái xì xụp một hồi, thì sai người đàn ông hóa vàng. Tôi rảo bước đi theo để bắt chuyện tìm hiểu. Anh này cởi mở cho biết: Anh là em chồng của người đàn bà kia. Vợ chồng anh trai của anh vốn là chủ một lò mổ lớn nhất nhì thành phố Sóc Trăng. Mỗi ngày, lò mổ của vợ chồng anh trai hóa kiếp hàng vài chục chú heo.

Vợ chồng anh ta là người Kinh, từ Bắc di cư vào, lại vốn vô thần vô thánh, nên chẳng quan tâm đến chuyện heo năm móng hay ba giò như đồng bào Khmer ở đây thường kể. Lò mổ của anh này có 7 thợ, mổ heo từ ba giờ sáng, đến năm giờ thì thịt đã ra thịt, xương ra xương để các lái buôn đến chở đi. Thông thường, anh ta cắt đặt công việc từ chiều hôm trước cho trưởng nhóm mổ, nhóm thợ cứ tự động làm. 5 giờ sáng, vợ chồng anh ta mới phóng xe đến để kiểm soát đầu ra, phân phối cho các đại lý đến lấy hàng.

Thế nhưng, hôm đó, vợ chồng anh này đến mà chưa con heo nào được mổ. Đám công nhân ngồi hút thuốc lào, uống nước chè chờ vợ chồng ông chủ tới. Anh này hỏi lí do, thì hai thợ mổ là người Khmer bảo rằng, có hai con heo đã… “thành tinh”, là do con người… hóa kiếp thành heo, nên không dám mổ. Hóa ra, trong đàn heo chuẩn bị mổ có hai con heo mà đồng bào ở đây gọi là heo năm móng và ba giò. Mấy thợ mổ người Kinh thì không hiểu gì, nhưng riêng hai thợ mổ người Khmer quê ở huyện Vĩnh Châu thì rất sợ hãi. Hai anh này còn đốt nhang cắm ngay cửa chuồng heo rồi khấn lấy khấn để. Nhìn cảnh ấy, đám thợ còn lại cũng hãi, không dám mổ heo, thống nhất chờ ông bà chủ đến giải quyết.

Quá tức giân, anh này đã sai thợ mổ mang chày cho mình. Rồi anh kêu nhóm thợ kéo lần lượt hai con heo mà thợ mổ của anh sợ hãi lên bàn mổ. Anh này vốn là thợ mổ lâu năm, nên mổ heo rất thuần thục. Mặc cho người vợ can ngăn, anh vung chày đập bốp một cái, chú heo há miệng quay đơ. Tay trái nắm tai, tay phải chích nhẹ, con dao bầu thấu cổ chú heo, máu xối ồ ạt ra chậu.

Chú heo “thành tinh” còn lại cũng chịu chung số phận. Để đám thợ không sợ hãi, anh trực tiếp cạo lông, rồi chỉ nhoáng nhoàng, thịt đã ra thịt, xương ra xương. Mổ xong, anh bảo: “Đây nhé, là heo chứ không phải là người nhé!”. Đám thợ còn lại thấy vía ông chủ thì chẳng sợ gì nữa, riêng hai anh thợ người Khmer thì mặt mũi tái nhợt, chân tay run lẩy bẩy.

Vụ mổ heo sẽ chỉ bình thường như vô vàn những lần mổ heo khác, nếu như không có sự kiện khủng khiếp diễn ra với ông chủ này. Ngay sáng đó, sau khi chọc tiết hai con heo năm móng và ba giò, trên đường chở vợ về nhà chiếc xe tải chạy ngược chiều đâm thẳng vào chiếc xe máy của vợ chồng anh ta, hất văng hai vợ chồng lên vỉa hè. Điều kỳ lạ là người vợ không hề xây xát, nhưng anh chồng thì bất tỉnh, máu me vương vãi khắp nơi. Cũng ngày hôm dó, đám thợ bỏ việc hết, không dám làm việc ở lò mổ này nữa.

Lò mổ đóng cửa từ đó, ông chủ nằm viện suốt hai năm trời, tiêu tốn bạc tỷ mới đi cà nhắc được. Chuyện xảy ra đã bảy năm nhưng vợ chồng chủ lò mổ vẫn còn hãi hùng. Từ đó đến nay, cứ vào ngày rằm, chị vợ lại chuẩn bị lễ lạt, hương khói ở nghĩa địa heo trong chùa Mã Tộc. Chị đã nhờ nhà chùa rước “linh hồn” hai chú heo “thành tinh” mà chồng chị sát hại về ngồi chùa này để thờ cúng, khói hương, mong “linh hồn” hai chú heo tha thứ.

Những câu chuyện rùng rợn về "heo thiêng trả thù"


Nghe xong câu chuyện kinh hãi về ông chủ lò mổ bị heo “thành tinh” báo oán, tôi vào chánh điện tìm gặp sư trụ trì. Tuy nhiên, bữa đó, Thượng tọa Kim Rêne, trụ trì chùa Mã Tộc đi vắng, chỉ có sư phó Tú Linh ở chùa tiếp khách. Sư phó Tú Linh bảo rằng, những chuyện đồn đại sợ hãi về những chú heo năm móng, ba giò có rất nhiều.

Chuyện này bắt đầu bởi một quan niệm mang tính chất tâm linh của người Khmer về những con heo quái thai. Người Khmer tin rằng những con heo có năm móng (năm móng chân, thay vì bốn móng như thông thường – PV) hoặc ba giò (một chân móng đen, một chân móng trắng gọi là heo ba giò – PV) chính là cố tinh của người. Người ta còn đồn rằng, nếu gia đình nào nuôi phải thì sẽ gặp chuyện lục đục chẳng lành, còn nếu giết heo thì người giết heo, thậm chí cả nhà đó sẽ phải đền mạng. Nhà nào có heo này, muốn bán cũng không có ai mua, cho không ai dám lấy, cứ phải nuôi đến khi nó chết, đem mai táng cẩn thận, thì may ra mới thoát nạn.


Heo 'thành tinh' báo oán chủ lò mổ - Tanchau123.Blogspot.Com

Sư phó Tú Linh kể, ngay tại ngôi làng Mahatup, cạnh chùa Mã Tộc, cách đây 10 năm, có một người đàn ông đang ngồi câu, thấy một con heo vừa to vừa béo thủng thẳng tiến lại gần. Chân con heo này đeo một chiếc vòng bạc. Nhìn qua ông này biết con heo là loài quái thai năm móng, được gia chủ đóng cho chiếc vòng bạc, rồi thả rông. Nó cứ lang thang “xin ăn” khắp nơi.

Vốn vô thần vô thánh, lại đang lúc túng đói, ông ta liền dắt heo về chọc tiết. Ăn không hết, ông ta đem ra bán ngoài chợ. Không ai biết đấy là thịt heo năm móng, nhưng chẳng hiểu sao cả buổi chợ hôm đó, không ai tiến lại chỗ ông ta hỏi mua thịt heo. Ngay đêm hôm đó, ông tự dưng bần thần, đôi mắt từ đờ đẫn chuyển sang dại, rồi điên khùng luôn. Vợ chồng, con cái sinh ra lục đục, đánh nhau chí chóe. Ông này điên khùng một thời gian thì lăn ra chết. Sau vụ ấy, người dân trong làng nhìn thấy heo năm móng hoặc ba giò đi dọc đường là kính cẩn chắp tay hành lễ.

Bà cụ là phật tử quét dọn trong chùa Mã Tộc cũng kể lại một chuyện không kém phần kinh hoàng. Cách đây 7 năm, một ông chủ lò mổ chở đến chùa xác một con heo vừa bị chọc tiết, máu vẫn còn chảy ròng ròng. Ông chủ lò mổ này cùng gia đình vừa khóc vừa lạy, mong nhà chùa hóa giải kiếp nạn vì lỡ mua và giết một con heo 5 móng.

Số là đám thợ mổ của ông không để ý, đến khi chọc tiết, làm lông mới nhìn đến móng chân nó, và đếm thấy có năm móng chứ không phải là bốn móng như thông thường. Nhà chùa lúc đó cũng làm lễ hóa giải. Ông này cũng xây mồ chôn heo tử tế, nhưng rồi ông ta cũng không thoát được sự báo oán của con heo “thành tinh” này. Hiện ông ta bị tâm thần, suốt ngày lang thang ở thành phố Sóc Trăng.

Còn vô vàn chuyện liên quan đến heo năm móng, ba giò báo oán hại người. Có thể những câu chuyện họ kể là thêu dệt, suy diễn, nhưng có một thực tế mà ai cũng lấy làm lạ, đó là người Khmer vùng Sóc Trăng coi loài vật này như ma quỷ hiện hình.

(Theo GĐ&CS)

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Thây ma tự tìm đường về nhà tại Indonesia

Thây ma tự tìm đường về nhà?
Theo quan niệm từ xa xưa của bộ tộc Toraja ở vùng núi cao phía nam tỉnh Sulawesi (Indonesia), những người đã chết được mai táng ở xa hay gần đều phải quay lại ngôi làng nơi người đó sinh ra để gặp mặt người thân. Đây là quy định bắt buộc đối với người chết, bởi người sống sẽ hướng dẫn người chết bước vào một cuộc sống mới ở thế giới bên kia.
Thây ma tự tìm đường về nhà tại Indonesia - Tanchau123.blogspot.com
Thây ma đi lại không phải là hình ảnh lạ đối với người Toraja.
Sau khi được "làm phép", xác chết có thể đi lại bình thường mà không gặp rắc rối gì. Những thây ma di chuyển một cách cứng ngắc, trông giống như robot và khuôn mặt không chút biểu cảm. Điều đặc biệt là nếu có người nói chuyện với thây matrên đường trở về, thây ma đó sẽ ngã xuống và không thể đứng dậy tiếp tục cuộc hành trình nữa.Nghe qua có vẻ kỳ lạ và vô lý nhưng đối với người Toraja, họ sẽ an tâm hơn khi người thân đã mất của họ được hướng dẫn tỉ mỉ các "kỹ năng" tồn tại trước khi thực sự được yên nghỉ nơi suối vàng. Trước đây, quãng đường về nhà của các thây ma rất dài, nhiều người sợ rằng, các thây ma sẽ lại "chết" thêm lần nữa trên đường về. Bởi vậy, họ thường thuê một thầy phù thủy đi đằng sau để giúp đỡ thây ma về nhà an toàn.
Như vậy, mối nguy hiểm rình rập thây ma là gặp những người còn sống và bị họ bắt chuyện trong hành trình trở về nhà. Do đó, để hạn chế rủi ro, các thầy phù thủy thường tìm những con đường vắng vẻ, gần như không có người qua lại để các xác chết có thể tự do đi lại mà không gặp phải "khắc tinh".
Mặc dù các nhà khoa học biết đến tập tục kỳ lạ này của người Toraja từ lâu nhưng họ vẫn luôn phải đau đầu đi tìm lời giải cho câu hỏi "Phù thủy Toraja làm thế nào có thể khiến các thây ma đi lại và tìm được đường về nhà?". Câu trả lời được cho là hợp lý nhất là các thầy phù thủy đã sử dụng một loại bột nhằm đưa người chết sống trở lại trong trạng thái vô thức và trong một thời gian nhất định.
Đối với người sống, loại bột này có độc tính cao bởi nó được chiết xuất từ những loại động vật cực độc như cá nóc, bọ cạp, nhện độc... Bên cạnh đó, thầy phù thủy còn lấy thành phần bột từ dưới da và trong nội tạng của con sa giông, cóc, kỳ nhông, bạch tuộc vòng xanh... Nhưng đối với người chết, nó lại là một thần dược giúp cải tử hoàn sinh. Khi các thầy phù thủy thổi bột vào xác chết, nó sẽ kích thích hệ thần kinh đã chết hoạt động trở lại như một cái máy được tra dầu.
Một cao niên trong làng cho hay: "Trước đây, việc bất ngờ bắt gặp một thây mađang khập khiễng đi lại ngoài đường là chuyện như cơm bữa. Nhưng ngày nay, người Toraja chúng tôi hiếm khi được thấy những cảnh như vậy. Nguyên nhân chính vẫn là tiền. Ngày càng ít người biết đến ma thuật này và cũng ít gia đình có thể trả được chi phí cao "cắt cổ" cho thầy phù thủy".
Bí mật của các thây ma tự tìm đường về nhà có lẽ chỉ những phù thủy Toraja biết được, chỉ họ mới có được câu trả lời xác đáng nhất.
Thây ma tự tìm đường về nhà tại Indonesia - Tanchau123.blogspot.com

Nhiều ngôi làng và các địa điểm chôn cất của người Toraja đã được Chính phủ Indonesia thiết kế thành những "địa điểm du lịch", nhưng việc làm này vẫn không làm thay đổi cách sống của họ. Nhưng điều quan trọng hơn hết là điều này đã giúp nền văn hóa truyền thống của bộ tộc Toraja được sống mãi thay vì để chúng biến mất khỏi lịch sử. Do đó, mặc dù một số người Toraja cảm thấy khó chịu với kế họach "du lịch hóa" của Chính phủ nhưng họ vẫn không phản đối cách làm này của Chính phủ.
Nghệ thuật bảo quản xác chết hoàn hảo
Những ma thuật thần kỳ của người Toraja được thế giới biết đến từ lâu, khi bộ tộc Toraja còn bị cô lập và tách biệt hẳn so với thế giới bên ngoài. Theo những người già nhất trong bộ tộc, việc làm cho thây ma biết đi có từ thời xa xưa. Vào thời ấy, một cuộc nội chiến đã xảy ra giữa những người Toraja ở phía tây và người Toraja ở phía đông.
Người Toraja ở phía tây đã bị thua thảm hại và bị giết chết gần hết. Trong khi đó, người Toraja ở phía đông bị thiệt mạng ít hơn và hầu hết các chiến binh đều mang được xác của những người tử nạn về làng để chôn cất. Ngược lại, do không thể mang xác của những người xấu số về làng, người Toraja ở phía tây đã nghĩ ra một cách đặc biệt để chôn cất những người chết.
Sau đó, họ dùng một phương thức thần bí nào đó làm các xác chết biết đi và tự tìm đường về làng của mình. Kể từ đó, người Toraja vẫn giữ "ma thuật" này và cho đến nay các thầy phù thủy chỉ thực hiện khi có yêu cầu của người nhà người quá cố.
Thây ma tự tìm đường về nhà tại Indonesia - Tanchau123.blogspot.com
Thây ma được ăn mặc tử tế trước khi về nơi an nghỉ cuối cùng.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn nghi ngờ có một loại chất đặc biệt giúp bảo quản xác chết, nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời. Còn theo dân địa phương, cách thức chôn cất độc đáo của người Toraja cùng với điều kiện thổ nhưỡng đặc biệt có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng lý giải cho việc tại sao việc thây ma biết đi lại chỉ có duy nhất ở vùng Mamasa (Indonesia).Điều kỳ lạ là những xác chết đi lại này còn khá nguyên vẹn và không hề bốc mùi hôi thối. Từ năm 1905, các nhà khoa học cũng đã tìm thấy những xác người không bị phân hủy ở vùng đất này. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và bất ngờ nhận ra, những xác người này không hề được tẩm ướp bất cứ một loại hóa chất nào, khác hẳn với phương pháp ướp xác được biết đến của người Ai Cập cổ đại.
Khi một người trong làng qua đời, thi thể của họ sẽ được bọc bằng quần áo trước khi đặt vào quan tài. Sau đó, những người đàn ông sẽ khiêng chiếc quan tài ra nơi chôn cất của bộ lạc. Nghĩa địa của người Toraja không giống bất kỳ nơi nào trên thế giới. Đó là những vách núi đá vôi dựng đứng, hàng trăm chiếc quan tài nằm cheo leo trên các vách đá đó. Tại đây, người ta đục thành những ô vuông ăn sâu bên trong đá, đủ dài và rộng để vừa một chiếc quan tài.
Nhìn từ phía xa, những ngôi mộ nằm trong lòng núi trông giống những chiếc tổ chim bồ câu hay giống những ô cửa sổ của một khu nhà cao tầng. Chỉ những người đàn ông khỏe mạnh mới làm được công việc chôn cất vất vả này. Ban đầu, họ dùng thang tre để bắc lên những khoang mộ trên vách núi và sau đó phải cần tới 4 đến 5 người mới có thể vận chuyển thi thể người quá cố lên vách núi thẳng đứng như bức tường trước khi đặt người chết vào nơi yên nghỉ cuối cùng.
Còn về việc mùi hôi từ xác chết không hề tồn tại là do những xác chết này không bị phân hủy mà khô quắt lại như những xác ướp chúng ta thường thấy. Nhiều xác chết bước ra khỏi quan tài sau nhiều năm vẫn còn lông mi, lông mày, tóc và khuôn mặt hầu như không bị biến dạng hay thay đổi nhiều so với lúc mới chôn.
Theo những người dân nơi đây, việc những xác chết có "chất lượng" tốt như vậy có thể là do trong đá vôi ở vùng này có một loại chất giúp bảo quản xác người. Thêm vào đó, việc những thi thể nằm sâu trong vách núi tránh được tác động của thời tiết hoặc sự đào bới của các loại động vật cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc các thi thể được giữ nguyên vẹn.
Tuy nhiên, trước khi đem đi chôn trên vách đá, xác chết đã được ướp bởi một số loại lá cây lạ hái trong rừng. Những lá cây này có tác dụng bảo quản xác chết mấy năm trời, giữ xác không bị thối rữa hay rời rạc bởi một xác chết sẽ không thể đi lại bình thường nếu như xương bị rời rạc mỗi nơi một chiếc.  
Theo Người đưa tin

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Những loài động vật nguy hiểm nhất Amazon

Amazon, một nơi tuyệt đẹp, bí ẩn và nguy hiểm. Dòng sông mênh mông này đã hình thành nên một lục địa và những sinh vật sống ở đây. Một số lượng lớn các loài vật đi lại hiên ngang giữa rừng nhiệt đới rậm rạp, và di chuyển liên tục dưới làn nước tối tăm.

Nghi lễ ăn thịt người chết của thổ dân Wari

Những phong tục kì lạ ư? Nhiều lắm. Mỗi bộ lạc thổ dân đều có những bí mật riêng của họ. Và còn rất nhiều bộ lạc chúng mình chưa hề được tiếp xúc. Nhưng bạn có bao giờ nghe người chết bị ăn thịt bởi con người cùng dòng họ chưa? Đó là người Wari đó!

Bộ tộc Wari, lưu vực sông Amazon đã làm điều đó, họ nói nó là biểu hiện cao quý nhất về tình yêu và lòng tôn kính đối với người đã khuất. Nghi lễ ăn thịt ông bà giúp con cháu có thể lưu giữ mãi mãi hình ảnh của tiền thân trong mình.

Tuy đã bị cấm nhưng người Wari vẫn duy trì lén lút đó bạn!

Người Wari quan niệm rằng, con cháu sẽ phạm tội bất hiếu nếu đem thân xác của người chết chôn xuống đất bẩn và để thối rữa ở đó. Linh hồn con người ngự trị ở thân xác, vì vậy việc tiếp nhận xác chết bằng cách ăn thịt là để "giữ mãi linh hồn và trí tuệ của người chết ở thân xác của người sống".

Tục lệ Wari cho rằng, điều dằn vặt người chết lớn nhất là nỗi nhớ về trần thế. Vì vậy, cùng với việc ăn thịt, tất cả những thứ liên quan đến người chết như nhà cửa, đồ đạc... đều bị đốt hết, nhằm giúp linh hồn không nhớ về thân xác và các vật dụng của mình nữa. Nhờ vậy, người chết có thể yên nghỉ dưới âm phủ (người Wari cho rằng, người chết sẽ về cõi thần tiên ở dưới đất, chứ không phải ở trên trời).

Sặc, mình hổng bít ba cái huyền thoại, truyền thuyết gì đó có đúng hông, nhưng mà mình thấy ghê quá đi! Mình không đồng tình với họ, nhưng thiết nghĩ họ cũng có lý do của họ mà. Vì quá thương nên họ giữ thể xác người thân trong người họ.


Clip cây ăn thịt người có thật 100%

Cây ăn thịt người từ lâu đã là nỗi ám ảnh đối với nhiều người. Sinh thời, nhà sinh vật học vĩ đại Charles Robert Darwin (1809-1882), cha đẻ của thuyết tiến hóa đã bỏ ra 15 năm để nghiên cứu về những loại cây có khả năng ăn thịt người. 

Vậy có loại cây ăn thịt nào có khả năng ăn thịt người hay không? Trên thực tế câu trả lời là không. Loài cây ăn thịt lớn nhất là cây Nepenthes. Nó mọc ở vùng Đông Nam Á và có kích thước tới 50 feet (15m). Cây Nepenthes có khả năng bẫy côn trùng lớn và thậm chí là cả những động vật nhỏ như chuột và cóc nhái. Chất phân hủy của cây Nepenthes phun ra có thể tích lên tới 1 gallon (gần 4 lít). Nông dân thường trồng cây Nepenthes quanh những ruộng lúa của họ để chống lại chuột bọ ăn lúa.

Không có loài cây ăn thịt nào đủ lớn để ăn thịt người cả. Vậy huyền thoại về cây ăn thịt người đến từ đâu?

Loài cây gây ra những lời đồn đại về cây ăn thịt người là cây Amorphophallus titanum thường được biết với một cái tên khác là "hoa xác chết". Amorphophallus titanum là loài cây có hoa lớn nhất, có mùi mạnh nhất và trông hình dáng khá dữ tợn. Hoa của cây Amorphophallus titanum có thể dài tới 9 feet (gần 3m) và có mùi rất khó chịu như mùi thịt thối đang bị phân hủy. Mùi đó thu hút o­ng và khi o­ng đậu lên, phấn hoa sẽ rơi xuống rào rào khiến con o­ng không bay được và rơi vào đáy hoa rồi bị phân hủy thành thức ăn của cây. Loài cây Amorphophallus titanum có nguồn gốc từ Indonesia. Điều đặc biệt là khi mang cây này đi trồng ở những vùng đất khác như Mỹ thì cây không nở hoa nữa. Chỉ duy nhất có một cây Amorphophallus titanum nở hoa vào năm 1937 tại Thảo Cầm viên New York. Khi hoa nở, cánh hoa dài ra 4 inches (10cm) mỗi ngày. Chính vì hình dáng to lớn và mùi thịt thối nên cây Amorphophallus titanum đôi khi bị coi là cây ăn thịt người.

Điều trớ trêu là loài cây có khả năng "ăn thịt người" được nêu trên không những chưa ăn được ai mà lại đang bị chính loài người tiêu diệt. Việc mở rộng diện tích cây trồng và canh tác những loài cây ăn quả đã đe dọa nghiêm trọng đến sự sinh tồn của những loài cây ăn thịt.

Tàu ma Mary Celeste và bí ẩn hơn 100 năm

Tàu ma là một trong những hiện tượng bí ẩn nhất mọi thời đại. Qua hàng thế kỷ, những con tàu lạ kỳ này vẫn đang kích thích con người tìm hiểu, suy đoán và đưa ra những lý giải thú vị.


Trong nhiều thế kỷ qua, người ta vẫn thường truyền tai nhau câu chuyện về hàng loạt con tàu ma đầy ám ảnh. Đó những con tàu bị bỏ hoang, lênh đênh vô định trên biển, không hề có bóng dáng của con người, thường xuất hiện trong những tình huống đáng sợ và đầy bí ẩn. Tính xác thực của những lời đồn đại này chưa biết đến đâu nhưng ẩn số về sự biến mất đầy bí hiểm của thủy thủ đoàn trên tàu ma đã trở thành một trong những chủ đề “nóng” của lịch sử ngành hàng hải thế giới.
Loạt bài này sẽ điểm lại những chuyện ly kỳ và những kiến giải thú vị về nhiều con tàu ma nổi tiếng.


Ngày 4/11/1872, hai vị thuyền trưởng David Reed Morehouse (thuyền trưởng tàu chở hàng Dei gratia của Anh) và Benjamin Briggs (thuyền trưởng tàu Mary Celeste của Mỹ) ngồi ăn tối cùng nhau ở New York.
Họ là những người bạn cũ và cùng dừng chân ở New York trước khi Morehouse ra khơi vào ngày 15, còn Briggs đi vào hôm sau với vợ và con gái, cả hai cùng hướng tới châu Âu.
Thủy thủ đoàn biến mất không dấu vết
Không lâu sau, ngày 5/12, thuyền trưởng Morehouse vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy con tàu Mary Celeste của Briggs lênh đênh ở khu vực giữa Bồ Đào Nha với quần đảo Azores, dường như đang nằm ngoài tầm kiểm soát và di chuyển một cách vô định theo hướng gió. Tiếp cận con tàu, họ nhận thấy Mary Celeste tuy có bị nước tràn vào một chút nhưng nhìn chung trong tình trạng rất tốt. Hàng hóa gồm 1701 thùng cồn, lương thực thực phẩm và nước ngọt đủ cho 6 tháng vẫn còn, không bị xáo trộn, chỉ duy nhất một thùng cồn bị hư hỏng, vật dụng cá nhân của cả đoàn đều ở nguyên vị trí, một chiếc bơm đang hoạt động với 2 cánh buồm được giương lên.
Hầu hết giấy tờ và thiết bị định vị trên tàu đã biến mất, không hề có bất kỳ dấu hiệu nào của con người. Tuy nhiên, cuốn nhật ký hàng hải thì vẫn còn, trong đó ngày cuối cùng được đặt bút có đề 25/11/1872, khi con tàu gần tới đảo St Mary, cách nơi người ta tìm thấy nó khoảng 700 dặm.
Điều kỳ lạ là tất cả đột nhiên mất tích không dấu vết mặc dù thời tiết lúc đó tốt và thuỷ thủ đoàn là những người đi biển rất có kinh nghiệm.

Tàu ma Mary Celeste và bí ẩn hơn 100 năm, Tin tức trong ngày, tau ma, tau bo hoang, tau danh ca, thuy thu, ma, con tau bi hiem, bao, tin tuc, tin hot, tin hay, vn
Bức họa tàu Mary Celeste năm 1861. (Ảnh: Toptenz)

Các giả thuyết giàu… trí tưởng tượng

Người đầu tiên đưa ra giả thuyết về số phận của thủy thủ đoàn trên con tàu là Frederick Solly Flood, luật sư tại tòa án Hải quân Anh.
Flood suy đoán toàn bộ thủy thủ đã đột nhập vào khoang hàng hóa, uống những thùng cồn và sau đó giết chết thuyền trưởng Briggs, vợ và con gái ông, cùng vị phó thuyền trưởng Richardson. Sau đó, chính Flood lên tiếng loại bỏ giả thuyết này và chuyển sang “sống chết” với quan điểm rằng cồn đã bị biến chất và nhiều khả năng là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho ai chẳng may uống phải.
Chưa dừng lại, ông tiếp tục đưa ra giả thuyết Briggs và Morehouse, trong cuộc gặp ở New York, đã âm mưu lừa gạt thủy thủ trên tàu Mary Celeste. Theo kế hoạch, Briggs là người ra tay giết chết nhóm thủy thủ đoàn của mình, Morehouse sau đó sẽ yêu cầu bồi thường cho việc cứu hộ tàu Celeste và chia tiền với Briggs. Tuy nhiên, cả Briggs và Morehouse được biết đến là những con người đáng kính, có lý lịch tốt, không thể là hung thủ giết người.
Mặc dù vậy, Flood vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Nếu Briggs không làm điều đó thì nhất định là Morehouse. Flood tố cáo các thủy thủ của Dei Gratia đã tấn công tàu Mary Celeste vì lợi ích có thể nhận được với tư cách là người cứu hộ. Sau nhiều tháng đưa ra lời vu khống chống lại Morehouse, tòa án Admiralty cuối cùng đã minh oan và thanh toán mọi chi phí cho đoàn của Morehouse.
Thời điểm đó, thế giới rất quan tâm đến những cáo buộc của Flood, thậm chí trong một bài viết trên tờ New York Times, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ William Richard cũng đưa ra nhận định của riêng mình với vụ án này và đồng ý với giả thuyết của Flood khi cho rằng đây là một cuộc nổi loạn.
Sau đó, vào tháng 1/1884, tạp chí Cornhill Magazine đăng tải một truyện ngắn với tiêu đề “J. Habakuk Jephson's Statement”, tác giả là bác sĩ trẻ Arthur Conan Doyle (người sau này viết bộ tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes nổi tiếng). Truyện xây dựng từ sự cố tàu Mary Celeste, trong đó, tác giả nói đã tìm thấy những giấy tờ của Abel Fosdyk, một người được cho là hành khách trên tàu. Theo Fosdyk, vị thuyền trưởng đã cùng tranh luận với 2 thủy thủ của mình về tốc độ bơi. Và để chứng tỏ mình đúng, cả 3 cùng nhảy xuống nước bơi mà không biết sắp làm mồi cho cá mập. Những người còn lại chạy đến xem chuyện gì đang xảy ra. Bất ngờ phần mũi tàu họ đứng gãy tan, tất cả cùng chịu chung số phận với vị thuyền trưởng. Fosdyk là người duy nhất sống sót vì đã bám được một mảnh ván và trôi dạt vào bờ biển ở châu Phi. Theo nhiều chuyên gia, đây chỉ là một giả thuyết mơ hồ, không có cơ sở khi mà nhân chứng Fosdyk đã chết và chẳng ai có thể kiểm chứng được.
Câu chuyện tiếp theo xuất hiện vào cuối những năm 20, khi Lee Kaye của tạp chí Chamber's Journal viết về một “Người duy nhất còn sống sót” khác là John Pemberton, về những chi tiết đã xảy ra trên tàu. Câu chuyện Pemberton sau đó đã được Laurence Keating xuất bản thành cuốn sách có tên “Mary Celeste Hoax” vào năm 1929 và trở thành cuốn sách bán chạy nhất toàn khu vực Đại Tây Dương cho đến khi Kaye bị tố cáo là dàn dựng trò lừa bịp này.

Tàu ma Mary Celeste và bí ẩn hơn 100 năm, Tin tức trong ngày, tau ma, tau bo hoang, tau danh ca, thuy thu, ma, con tau bi hiem, bao, tin tuc, tin hot, tin hay, vn
Mary Celeste là "tàu ma" bí ẩn nhất mọi thời đại của ngành hàng hải thế giới

Suy đoán của chuyên gia

Tất cả các giả thuyết đều bị bác bỏ, vậy thực sự điều gì đã xảy ra với toàn bộ thủy thủ trên con tàu?
Ở thời điểm chuyển giao thế kỷ, một số ý kiến tin rằng Mary Celeste đã bị tấn công bởi một con mực khổng lồ hoặc một con quái vật biển. Nhưng cứ cho đó là Kraken (con quái vật xúc tu chuyên đánh chìm tàu bè trên biển) thì tại sao nó lại lấy đi các loại giấy tờ trên tàu, và tại sao con tàu bị tấn công nhưng không có ai rút thanh gươm trên tàu ra chiến đấu, nó vẫn nằm nguyên trong vỏ? Khi tìm thấy nhiều vết đỏ trên tàu, người ta kết luận đó là máu nhưng thực chất chúng đơn giản chỉ là gỉ.
Về chiếc xuồng cứu sinh, có một sự đồng thuận giữa những người nghiên cứu vấn đề này, bao gồm cả tòa án, rằng con tàu đã bị bỏ lại. Các dấu hiệu lộn xộn trên chiếc giường của thuyền trưởng, quần áo của thủy thủ đoàn thì vương vãi xung quanh cho thấy một cuộc tháo chạy trong vội vã. Ngoài ra, vài sợi dây thừng cũng biến mất dẫn đến kết luận thủy thủ đoàn đã rời hết xuống con xuồng, dùng dây thừng buộc nó vào sau tàu Celeste.
Về lý do di chuyển, có ba giả thuyết được ủng hộ nhiều nhất:
Thứ nhất, có thể thực phẩm trên tàu đã bị nhiễm độc, gây ảo giác và khiến các thủy thủ bỏ tàu. Người ta tìm thấy một chất trong bánh mì lúa mạch đen trên tàu có thể tạo ảo giác. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn từ tàu Dei Gratia cũng đã sử dụng chính đồ ăn trên tàu Celeste trong hơn một tuần mà không thấy hiện tượng gì bất thường. Vì vậy, giả thuyết thứ nhất có thể loại bỏ.
Thứ hai, vấn đề có thể nằm ở số hàng hóa trên tàu. Khi thùng cồn cuối cùng được mở ra, 9 thùng hoàn toàn trống rỗng, rõ ràng đã bị rò rỉ trong chuyến đi. Thuyền trưởng cho rằng lượng hơi bốc ra lại bị giới hạn trong một không gian nhỏ rất dễ phát nổ. Vì vậy, khoang tàu đã được mở toang để hơi thoát đi và trong khi đó, thủy thủ đoàn sơ tán lên chiếc xuồng cứu sinh, giữ một khoảng cách an toàn.
Thứ ba, giả thuyết của Tiến sĩ James H. Kimble: tàu Celeste đã gặp phải cơn lốc xoáy trên biển, thường xuất hiện và tiêu tan một cách nhanh chóng. Nó không gây thiệt hại gì đáng kể và là lời giải thích hợp lý cho lượng nước trong tàu lúc được tìm thấy. Nhưng Briggs thì không nghĩ thế. Ông cho rằng con tàu sắp chìm.
Trong cả hai trường hợp 2 và 3, các thuyền viên và gia đình Briggs nhanh chóng nhận lệnh rời tàu. Tuy nhiên, khu vực Bắc Đại Tây Dương vào mùa đông được coi là nơi khá nguy hiểm cho nên hành động này có thể là nguyên nhân dẫn đến hậu quả đáng tiếc.
Hàng thế kỷ qua, đã có rất nhiều giả thuyết được đưa ra phân tích, mổ xẻ nhưng không có lời giải thích nào thoả đáng. Kết quả là cứ nhắc đến những “con tàu ma” thì cái tên Mary Celeste bao giờ cũng đứng ở vị trí đầu tiên và trở thành bí ẩn lớn nhất mọi thời đại của ngành hàng hải thế giới.

Tàu ma tự bốc cháy “trêu” người


Với những lời kể liên tục xuất hiện kể từ năm 1786 đến nay, nguồn gốc của con “tàu ma” Northumberland Strait đã trở thành một trong những bí ẩn chưa có lời giải trong lịch sử hàng hải.

Trong hơn 200 năm qua, rất nhiều người sống gần khu vực eo biển Northumberland chạy giữa Nova Scotia và đảo Prince Edward (Canada) từng chứng kiến một hiện tượng rất kỳ lạ. Các nhân chứng, dù đang ở trên bờ hay dưới biển, đều kể lại rằng họ đã nhìn thấy một con tàu có 3 cột buồm di chuyển rất nhanh qua eo biển. Và đột nhiên nó bốc cháy rồi sau đó biến mất không dấu vết.

Tàu ma Northumberland Strait (minh họa trên uhaul.com)
Thời điểm con tàu xuất hiện rải rác vào các tháng trong năm nhưng phổ biến nhất là những tháng mùa thu, ngay trước khi gió từ phía đông bắc thổi tới. Nhiều người tin rằng “tàu ma” Northumberland Strait là điềm báo về những cơn bão sắp xảy ra. Điều đáng kinh ngạc là tất cả nhân chứng đều mô tả lại những chi tiết tương tự nhau mặc dù thời đại họ sống cách nhau tới hàng trăm năm. “Một buổi tối tháng 10, khi tôi đang đi bộ dọc theo con đường trở về từ nhà người hàng xóm, nhìn ra eo biển Northumberland, tôi thấy một con tàu đang bốc cháy. Thời tiết hôm đó rất tốt nên hình ảnh con tàu khá rõ ràng. Nó cứ thế trong khoảng 2 phút và sau đó biến mất”, trích từ những báo cáo về “con tàu ma” Northumberland Strait.

Năm 1912, một nhân chứng khác sống gần Murray Harbour trên đảo Prince Edward khẳng định cô và cậu con trai tám tuổi đã theo dõi con tàu trong 30 phút. Cô cho biết đó là con thuyền có 3 cột buồm, khi di chuyển đến gần họ thì dừng lại. Nó có cánh buồm màu trắng, phần thân màu đen bóng. Bỗng nhiên lửa bùng lên, các thuyền viên bị nhấm chìm trong ngọn lửa, cô còn chưa hết kinh ngạc thì tất cả biến mất như chưa từng xảy ra.

Bên cạnh thông tin của các cá nhân riêng lẻ, đôi khi hiện tượng này xảy ra trước mắt rất nhiều người. Vào thời điểm khi cây cầu Confederation Bridge nối liền Nova Scotia và đảo Prince Edward chưa được xây dựng, người dân muốn vượt qua eo biển thì không còn cách nào khác là phải đi phà. Và trong những lần này, không ít người đã có cơ hội tận mắt chứng kiến “con tàu ma” ấy.
Trong cuốn sách “Folklore of Prince Edward Island”, tác giả Sterling Ramsay có viết: “Vào một buổi chiều tối năm 1900, khi hoàng hôn đang xuống, người dân đi trên chuyến phà hôm đó nhìn thấy một con tàu 3 cột buồm đang trong tình trạng khẩn cấp, bốc cháy dữ dội ở phần đuôi. Vài người đàn ông lập tức leo lên chiếc thuyền nhỏ hướng về phía đó với hy vọng có thể giải cứu được các hành khách, thủy thủ trên tàu. Tuy nhiên, trong khi họ đang gắng sức đến gần thì nó biến mất vào sương mù, ngay trước mắt họ. Liền sau đó, một cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng được tiến hành, thậm chí các thợ lặn cũng vào cuộc nhưng chẳng ai tìm thấy bất kỳ manh mối nào của con tàu bí ẩn”.

Tàu ma tự bốc cháy “trêu” người, Tin tức trong ngày, tau ma, tau bo hoang, tau danh ca, thuy thu, ma, con tau bi hiem, bao, tin tuc, tin hot, tin hay, vn
Bản đồ eo biển Northumberland (Ảnh: Wikipedia)

Trong nhiều năm qua, người ta vẫn tìm cách tiếp cận con tàu đang cháy nhưng còn chưa kịp làm gì thì nó lại biến mất vào không trung. Một số nhân viên cứu hộ thậm chí còn “một đi không trở lại” trong nỗ lực cứu giúp tàu bị nạn. Năm 1885, từng có một phi hành đoàn đã tham gia giải cứu và bặt tin từ đó.
Không ai biết chính xác danh tính, nguồn gốc của “con tàu ma” nhưng đã có rất nhiều giả thuyết được đưa ra, trong đó những người đi biển cho rằng nó chính là con tàu Isabella, không ai còn nhìn thấy kể từ tháng 12/1868 trong một cơn bão ở Nova Scotia.
Ý kiến khác thì khẳng định đây là tàu của những người nhập cư Highland Scots, mất tích trên biển trong quá trình đi tìm kiếm vùng đất mới; hoặc cũng có khả năng nó là tàu cướp biển từng bị tàu chiến của Anh đánh chìm gần Merigomish trong cuộc chiến tranh thời Napoleon.
Với nỗ lực tìm ra câu trả lời, tác giả Sterling Ramsay trong cuốn “Folklore of Prince Edward Island” có viết: Tàu Northumberland Strait bốc cháy nhiều khả năng chỉ là một ảo ảnh quang học không rõ cơ chế. Đây là hiện tượng khá phổ biến ở vùng biển này, kết hợp với các điều kiện khí quyển sẽ làm cho mọi thứ gần như vô hình.
Năm 1905, William Francis Ganong - một nhà khoa học tại bang New Brunswick ven biển miền đông Canada - cũng đưa ra lời giải thích liên quan đến ảo ảnh và nói rằng nguồn gốc của nó có lẽ là do điện trường.
Mặc dù nguồn gốc của con tàu ma này vẫn còn là điều bí ẩn nhưng với số lượng nhân chứng khá nhiều, cộng với việc cùng một câu chuyện nhưng liên tục được thông báo lại trong khoảng thời gian tương đối dài (hàng thế kỷ) khiến cho các chuyên gia khó có thể bỏ qua hiện tượng kỳ lạ đó. Vấn đề là cho đến nay, chưa có lời giải thích nào được công nhận là đủ sức thuyết phục.

Sát nhân mang đầu óc bác học (Kỳ 1)

Rulloff là một kẻ giết người kỳ lạ, nhân vật gây nhiều tranh cãi trong xã hội Mỹ, không chỉ trong quá khứ mà còn cho đến ngày nay. Nhiều người cho rằng, Rulloff rất thông minh và tài giỏi, thậm chí có đủ những tố chất của một thiên tài. Nhưng cũng lại có nhiều ý kiến cho rằng Rulloff là một kẻ lừa lọc, một gã lang băm đầy tính toán, một gã độc tưởng tuyệt vọng. Dù thế nào chăng nữa, Rulloff chắc chắn là một trong những kẻ giết người hàng loạt khó hiểu nhất ở Mỹ.


Sáng sớm thứ Sáu ngày 6/7/1870, một người đàn ông đang đi bộ để đi làm ở Bringhamton, New York. Khi đi qua cầu bắc ngang sông Chenango, ông thoáng nhìn thấy một vật gì đó nhấp nhô, lập lờ mắc vào đá ở dưới sông. Vốn hằng ngày đi qua đây nên người đàn ông biết có điều gì bất thường. Nhìn kỹ hơn, vật lạ đó là một chiếc bọc vải, đựng một thứ gì đó rất lớn bên trong và bị dìm xuống dòng nước. Trước sự việc quá đỗi bất thường, người đàn ông cùng một số người gần đó tiến lại xem xét.
Thứ mà họ nhìn thấy là thi thể một người đàn ông mặc nguyên quần áo, mặt úp xuống nước, một phần thi thể nhô ra ngoài bọc. Ớn lạnh người, cả nhóm quyết định dùng thuyền ra vớt xác nạn nhân và gọi cảnh sát tới. Dù thi thể người này là ai, chắc chắn một điều anh ta bị sát hại bởi vì gần đây, trên khu vực này có một số vụ giết người, ném xác phi tang đã gây bàng hoàng người dân nơi đây. Đám đông người dân ngày càng nhiều, chen chúc để xem thi thể người chết dưới sông.
Cách đó không xa, cũng trên đoạn sông này, một người khác lại thấy có một vật gì đó lập lờ trong nước. Anh ta chèo thuyền lại gần và nhận ra đó là một xác chết. Người này không quá bất ngờ vì ai trong thị trấn cũng biết về câu chuyện một toán trộm đã đột nhập vào cửa hàng đồ khô của anh em nhà Halbert, sát hại nhân viên bảo vệ trước khi tẩu thoát về phía con sông. 2 trong số bọn chúng đã nhảy xuống dòng sông. Rõ ràng là có thể chúng bị chết đuối. Ban đầu 2 vụ việc này có thể là tai nạn nhưng có nhiều những chứng cứ có thể kết luận đây là 2 vụ án giết người.

Sát nhân mang đầu óc bác học (Kỳ 1), An ninh Xã hội, giet nguoi hang loat, sat nhan bac hoc, sat nhan tai goi, giet nguoi, vu an noi tieng, giet nguoi thien tai, trong an, an mang, bao, bao cong an, bao an ninh, vn
Những xác chết vớt từ dưới sông.

Người dân thị trấn đổ xô đến xem trong lúc người ta vớt hai thi thể đã trương phình lên bờ. Mắt của một xác chết bị khoét sâu do chiếc móc sử dụng để kéo nó lên. Người dân rất hả hê khi nghĩ rằng công lý đã được thực thi, những kẻ giết người đã bị trừng phạt.
Vào thời điểm đó, còn có xác chết thứ ba. Tại cửa hàng của nhà Halberts, Frederick Merick, một thanh niên trẻ đã thiệt mạng để bảo vệ tài sản ở đây, chủ yếu là những miếng lụa đắt tiền. Trước khi vụ án được dựng lại chính xác, Gilbert Burrows, một nhân viên bảo vệ cửa hàng còn sống sót đã nói rằng, không phải chỉ có hai tên trộm đột nhập cửa hàng trong đêm đó mà là ba tên. Anh ta khẳng định điều này là chắc chắn.
Sáng sớm thứ tư, bọn trộm đột nhập vào cửa hàng nhà Halbert, tiếng động đã đánh thức hai nhân viên bảo vệ ở đây. Merick cầm khẩu súng lục để cảnh cáo hai tên trộm và ném chiếc ghế đẩu về phía chúng. Vào lúc đó, xuất hiện tên trộm thứ ba, hắn ném chiếc đục vào Burrows khiến anh này choáng váng. Khi định thần lại, Burrows đã hỗ trợ Merick đánh trả bọn trộm. Merick túm được một tên, ghì chặt hắn xuống quầy hàng. Lúc này, tên thứ ba đang cầm một khẩu súng, kéo cò và bắn Burrows, song viên đạn đi trượt. Hắn quay sang bắn vào đầu Merick ở cự ly gần, khiến chàng thanh niên thiệt mạng. Burrows chạy ra ngoài đường và hô hoán trong lúc những kẻ trộm tháo chạy.
Một cô gái đã nhìn thấy hai kẻ trộm rời cửa hàng bằng lối cửa sau và hướng tới con sông. Cô không xác định được có phải chúng đã lên thuyền hay bơi qua sông hay không. Trong khi đó, một phụ nữ khác lại thấy có ba người đàn ông lội xuống sông. Cảnh sát trưởng biết rằng, hoặc là họ sẽ tìm thấy một xác chết nữa hoặc kẻ trộm thứ ba vẫn còn sống. Nếu đây là sự thật, ông rất muốn tìm ra hắn.
Trong lúc náo loạn và vội vã tìm bác sỹ, mọi người đã không để ý đến một người đàn ông khi anh ta rời khỏi thị trấn. Mọi người không biết rằng, họ ở rất gần kẻ đã tham gia vào vụ cướp bất thành.
Thậm chí, ngay cả khi nhà chức trách tiến hành bắt giữ những kẻ tình nghi trong thị trấn, thời điểm hai xác chết trên sông chưa được phát hiện, người đàn ông này đã bị theo dõi khi anh ta đang lang thang trên đường. Bởi vì anh ta là người lạ, nên một số thanh niên đã bám theo. Người đàn ông này đã nhảy lên tàu hỏa để cắt đuôi họ, nhưng anh ta không thoát được. Nhóm thanh niên đã dồn và ép anh ta theo họ về thị trấn, tống anh ta vào nhà giam cùng với hai nghi can khác. Người đàn ông này cố gắng xé nát quần áo của mình như để che giấu bằng chứng phạm tội, nhưng vạt áo phía trước lại có vết máu.
Khi hai xác chết được xếp ngay ngắn, các nghi can được đưa đến để nhận dạng. Hai nghi can kia đều nói không biết những người này và họ không có biểu hiện nói dối. Riêng người đàn ông lạ mặt lại rất bình tĩnh, nhìn hai xác chết này từ nhiều phía khác nhau. Anh ta nói với bồi thẩm đoàn tên của mình là Charles Augustus, nhưng sau đó lại nói là George Williams. Những điều này rất đáng ngờ tuy nhiên lại không có mối liên hệ rõ ràng nào với vụ án mạng. Không có lý do gì để giam giữ người này, cho dù có người nhận ra anh ta là Edward Rulloff, kẻ từng bị cáo buộc về tội giết vợ con.
Rulloff thừa nhận danh tính của mình và giải thích rằng phải giả danh vì ở thị trấn này, nếu có án mạng xảy ra, người ta sẽ nghi ngờ cho anh ta vì anh ta là người lạ. Với lý do đó, anh ta đã tạm thời được thả tự do.

Cụ ông 81 tuổi hiến tặng bảo vật hoàng cung

Sáng nay (9/1), Bảo tàng Lâm Đồng đã trao bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho cụ ông Cung Văn Được (81 tuổi, ở thành phố Đà Lạt) về thành tích hiến tặng hiện vật “Đà Lạt xưa” cho bảo tàng Lâm Đồng.

Cụ ông 81 tuổi hiến tặng bảo vật hoàng cung, Tin tức trong ngày, cu ong hien tang bao vat hoang cung, bao vat hoang cung, bao tang, bao tang lam dong, hien vat, tang hien vat, tin tuc, tin nhanh, tin hot, vn
Chiếc cân tiểu ly được cụ Được hiến tặng Bảo tàng Lâm Đồng

Trong số 56 hiện vật mà cụ Được hiến tặng, có một hiện vật quý, được coi như “bảo vật hoàng cung”. Đó là chiếc cân tiểu ly dùng để cân vàng. Chiếc cân này có cán làm bằng ngà voi, dĩa và quả cân bằng đồng, cân được đựng trong chiếc hộp gỗ. Cụ Cung Văn Được cho biết, chiếc cân này từng được vua Thiệu Trị dùng để cân vàng, sau đó một người cháu nội của vua (tên là Ưng Lê) cất giữ, đến năm 1964 thì người này tặng lại cho cụ Được.

Cụ ông 81 tuổi hiến tặng bảo vật hoàng cung, Tin tức trong ngày, cu ong hien tang bao vat hoang cung, bao vat hoang cung, bao tang, bao tang lam dong, hien vat, tang hien vat, tin tuc, tin nhanh, tin hot, vn
Cụ Được giới thiệu chiếc cân tiểu ly “bảo vật hoàng cung”

Cụ ông 81 tuổi hiến tặng bảo vật hoàng cung, Tin tức trong ngày, cu ong hien tang bao vat hoang cung, bao vat hoang cung, bao tang, bao tang lam dong, hien vat, tang hien vat, tin tuc, tin nhanh, tin hot, vn
Cụ Được bên chiếc đồng hồ cổ

Ngoài chiếc cân tiểu ly, cụ Được còn hiến tặng bảo tàng Lâm Đồng nhiều hiện vật, cổ vật quý như: hộp đựng trang sức bằng gỗ quý, khảm xà cừ và dát đồng được các quý bà, quý cô rất ưa chuộng trong thập niên 50 của thế kỷ XX; bộ ghế được chạm khắc, trang trí hoa văn tinh xảo, chân ghế tạo hình đầu lân; mâm đồng trang trí hình rồng bay thường dùng trong các dịp lễ quan trọng của người Việt; đồng hồ cổ…

“Tam giác quỷ mới” nuốt chửng máy bay?


Chiếc máy bay và các hành khách có thể đã trở thành nạn nhân tiếp theo của “lời nguyền Los Roques” - hiện tượng mà một số người ví như Tam giác quỷ Bermuda, bài báo đăng trên The Guardian của Anh cho biết.
Chiếc máy đang vượt qua 87 dặm (140km) từ resort Los Roques (quần đảo gồm hàng trăm hòn đảo) tới Caracas, Venezuela thì biến mất trên vùng biển. Từ những năm 1990, ít nhất 15 máy bay gửi tín hiệu khẩn cấp hoặc biến mất trên khu vực này.
Năm 2008, 14 người thiệt mạng khi một chiếc máy bay thực hiện hành trình tương tự từ Los Roques biến mất. Từ đó đến nay, người ta không thể tìm thấy bất kỳ chiếc máy bay đắm nào, và chỉ một thi thể được tìm thấy - theo VolarenVenezuela, trang web hàng không dân dụng tại Venezuela cho biết.
Một số người cho rằng những vụ biến mất như thế này là do luồng khí methane bốc lên từ đáy biển. Một số người khác lại cho rằng, nguyên nhân là do người ngoài hành tinh, hoặc các linh hồn sống ở nền văn minh Atlantis đã chìm xuống đáy biển. Tất nhiên, đây chỉ là những đồn đoán không có bằng chứng.
Nhưng, cũng giống Tam giác quỷ Bermuda, vùng biển nằm giữa Bermuda, Nam Florida và Puerto Rico được biết đến với nhiều vụ tàu và máy bay biến mất bí ẩn. Thế nên những người ít mê tín dị đoan nhất cũng không tìm ra lời giải thích nào hợp lý.

Vittorio Missoni cùng chiếc máy bay bị mất tích - Ảnh: Radar Online
Tam giác quỷ Bermuda là vùng giao thông hàng hải tấp nập, nên nếu xét trên tỷ lệ thì nơi này cũng không có nhiều vụ mất tích bí ẩn hơn các vùng biển khác. Khu vực này thường xuất hiện những trận bão nhiệt đới không thể dự đoán trước, và dòng hải lưu Gulf Stream chảy cực kỳ xiết ở khu vực này.
“Người ta thường giải thích bằng cách này hay cách khác, dù rằng phải mất rất nhiều năm để tìm ra câu trả lời. Các phi công thường tập trung vào những điều thực tế hơn như: động cơ, nhiên liệu, dự báo thời tiết… vẫn còn quá sớm để biết rõ lý do gây tai nạn”, Nick Wall, biên tập viên của tạp chí Pilot nói.
Những vùng biển khác trên thế giới thường gắn với nhiều vụ tai nạn bí ẩn gồm Tam giác Michigan ở Hồ Michigan và Biển Sargasso thuộc Bắc Đại Tây Dương. Nhiều tàu thuyền được tìm thấy ở vùng biển Sargasso mà không có thủy thủ nào còn sót lại. Và truyền thuyết kể lại rằng, năm 1840, sau khi đi vào vùng biển Sargasoo, tàu buôn Rosalie của Pháp được phát hiện vẫn còn nguyên vẹn nhưng không còn thủy thủy nào trên tàu.
Tam giác quỷ Michigan cũng gắn với nhiều vụ mất tích bí ẩn của thủy thủ đoàn và phi hành đoàn. Biển Quỷ (Devil’s Sea), còn gọi là Tam giác quỷ Bermuda ở Thái Bình Dương, nằm gần Đảo Miyake, phía nam Nhật Bản cũng được cho là kỳ bí.
Gia Tùng (Theo LiveScience)