Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Khám phá Việt Nam: Ngọc xá lợi Phật

Xá-lợi sa. Sarīra hay Sāsīrikadhātu Pāli Sarīra, có nghĩa là tử thi, di cốt; dịch ý là thể, thân, thân cốt, di thân. Xá Lợi là những phần kết tinh còn lại sau khi làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) nhục cốt của Đức Phật và các vị cao tăng. Đối với người thường, sau khi thiêu xác, chỉ còn tro và phần xương cháy chưa rã. Thông thường xá-lợi dùng để chỉ cho di cốt của Phật còn lại sau khi thiêu, về sau cũng dùng để chỉ cho phần xương đầu của các bậc cao tăng sau khi viên tịch hỏa thiêu còn lại.
Tiếng Phạn còn một từ nữa cũng được dùng chỉ cho xá-lợi, đó là Dhātu phiên âm là Đà-đô. Chữ Đà đô này có nghĩa là Toái thân xá-lợi. Bản chú thích kinh Trường Bộ thuộc văn hệ Pàli ghi rằng thân thể hoạn chỉnh sau khi hỏa thiêu, phần di cốt còn lại gọi là Toàn thân xá lợi; phần tro còn lại gọi là Toái thân xá lợi.
Phân loại Xá-lợi
Theo kinh Dục Phật Công Đức thì xá lợi được chia thành hai loại là Sinh thân xá lợi và Pháp thân xá lợi.
- Sinh thân xá lợi còn gọi là Thân cốt xá lợi, tức là di cốt của Phật.
- Pháp thân xá lợi còn gọi là Pháp tụng xá lợi, tức là Giáo pháp và Giới luật của Phật còn lưu truyền lại.
Pháp Uyển Châu Lâm quyển 4 chia xá lợi làm ba loại: Xá lợi xương, xá lợi tóc và xá lợi thịt.
- Xá lợi xương có màu trắng.
- Xá lợi tóc có màu đen.
- Xá lợi thịt có màu đỏ.
Lợi ích
Kinh Kim Quang Minh quyển 4, phẩm Xả thân (Đ.16, 354) viết: "Xá lợi là kết tinh công phu tu tập Giới, Định, Tuệ, rất khó được, là phước điền tối thượng". Vì vậy có chỗ nói: Lễ bái di thân của Phật, lễ bái cây bồ đề chỗ Phật thành đạo, lễ bái tòa kim cương và dấu chân của Phật đi kinh hành đều có công đức như nhau.
Luận Đại Trí Độ quyển 59 chép rằng: Dù cúng dường một viên xá lợi nhỏ như hạt cải công đức cũng vô lượng, vô biên.


Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Nhạc Chú Đại Bi Trì 21 Lần Tiếng Phạn Rất Hay

LỜI BÀI HÁT:
Namo Ratna Trayaya,
Namo Arya Jnana
Sagara, Vairochana,
Byuhara Jara Tathagataya,
Arahat e , Samyaksam Buddhaya,
Namo Sarwa Tathagate Bhyay,
Arhata Bhyah,
Samyaksam Buddhe Bhyah,
Namo Arya Avalokite
shoraya Bodhisattvaya,
Maha Sattvaya,
Maha Karunikaya,
Tadyata , Om Dara Dara,
Diri Diri, Duru Duru
Itte We, Itte Chale Chale,
Purachale Purachale,
Kusume Kusuma Wa Re,
Ili Milli, Chiti Jvalam, Apanaye Shoha


Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát - Phim Phật Giáo (Buddhist Movies)

Quan Thế Âm tiếng Phạn là "Avalokitesvara" dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại ...Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.

Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.

TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm....Bi là phương châm, là cách thức hành động để cứu khổ.Từ là lòng yêu thương, Bi là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế. Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.

Quán Thế Âm xưa kia Ngài đã thành Phật hiệu là "Chánh Pháp Minh Như Lai". Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.

Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật tương lai sẽ bổ vào ngôi của Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống sa bà trợ giáo cho Đức Thích Ca Mâu Ni.